TRA CỨU · CỬA KINH ĐIỂN & NGUỒN HỌC PHẬT
Thuật ngữ Phật học
Từ điển ngắn gọn, dễ hiểu các thuật ngữ thường gặp khi học Tịnh Độ và giáo lý căn bản.
54 thuật ngữ
A
A Di Đà (Phật A Di Đà)
A Di Đà là Đức Phật giáo chủ cõi Tây Phương Cực Lạc. Danh hiệu Ngài có hai nghĩa lớn: Vô Lượng Quang (ánh sáng trí tuệ, từ bi) và Vô Lượng Thọ (thọ mạng vô cùng); người tu Tịnh Độ nương danh hiệu và bản nguyện của Ngài mà niệm Phật cầu vãng sinh.
B
Ba phước tịnh nghiệp
Là ba nhóm việc lành làm nền cho người cầu vãng sinh (theo Kinh Quán Vô Lượng Thọ): phước thế gian là hiếu kính cha mẹ, sống hiền; phước giữ giới là quy y và giữ giới; phước tu hành là phát Bồ-đề tâm, tin nhân quả.
Bản nguyện
Bản nguyện là lời thệ nguyện gốc mà Phật A Di Đà (tiền thân là Tỳ-kheo Pháp Tạng) đã phát để lập nên cõi Cực Lạc và tiếp dẫn chúng sinh. Nhờ bản nguyện ấy, người niệm Phật có chỗ nương tựa để cầu vãng sinh.
Bát Chánh Đạo
Là con đường tám phần Đức Phật dạy để đi đến hết khổ: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định. Tám phần nương nhau cùng tu, thu gọn trong ba nhóm giới - định - tuệ.
Bất thối chuyển
Nghĩa là không còn lui sụt trên đường tu. Kinh dạy người sinh về Cực Lạc đạt bậc bất thối, việc tu chỉ tiến không lùi cho tới ngày thành tựu; không phải là khỏi cần tu nữa.
Bồ-đề tâm
Bồ-đề tâm là tấm lòng rộng lớn: nguyện tu cho đến giác ngộ rồi trở lại giúp muôn loài bớt khổ, chứ không chỉ cầu an vui riêng cho mình. Đây là tinh thần cốt yếu của người tu Đại thừa và Tịnh Độ.
Bồ-tát
Bồ-tát là bậc đã phát tâm cầu giác ngộ và nguyện cứu độ chúng sinh, vừa tu cho mình vừa giúp người. Quán Thế Âm và Đại Thế Chí là hai vị Bồ-tát tiêu biểu trong cõi Cực Lạc.
Bố thí
Bố thí là cho đi với lòng rộng mở để bớt tham tiếc và nuôi lòng thương người, gồm cho của cải, chia sẻ lời Phật dạy và đem lại sự an lòng cho người khác. Cho với tâm trong sạch giúp người niệm Phật nhẹ lòng tham.
Bốn mươi tám đại nguyện
Là bốn mươi tám lời thệ nguyện mà Tỳ-kheo Pháp Tạng phát ra để trang nghiêm cõi nước và tiếp dẫn chúng sinh. Viên thành các nguyện ấy, Ngài thành Phật A Di Đà và cõi Cực Lạc được lập nên; trong đó nguyện thứ mười tám là cốt lõi của pháp niệm Phật.
C
Cận tử nghiệp
Cận tử nghiệp là tâm niệm trong giờ phút sắp lâm chung, có sức dẫn dắt mạnh tới hướng tái sinh, nhưng phần lớn do đời sống huân tập hằng ngày mà thành. Vì vậy cách lo cho phút cuối tốt nhất là chuyên tâm niệm Phật, sống thiện ngay từ hôm nay.
Chín phẩm vãng sinh
Là chín bậc sinh về Cực Lạc nêu trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ, gồm ba phẩm thượng - trung - hạ, mỗi phẩm ba bậc. Tùy công đức và lòng tin nguyện sâu cạn mà phẩm vị khác nhau, nhưng ai chí thành niệm Phật đều có phần.
Công đức
Công đức là sự sáng và an nơi tâm khi ta tu sửa, bớt tham sân si. Công đức sinh từ tâm và việc lành, không phải thứ đem tiền ra mua bán được.
D
Danh hiệu Phật
Danh hiệu là tên hiệu của một Đức Phật, gói trọn công đức của Ngài. Danh hiệu A Di Đà hàm hai nghĩa: Vô Lượng Quang (trí tuệ, từ bi sáng khắp) và Vô Lượng Thọ (nhiếp hóa không cùng tận); người tu trì niệm danh hiệu để nhớ Phật mà sống thiện.
Duyên khởi
Duyên khởi là lời Phật dạy rằng mọi việc đều nương nhau mà sinh: đủ điều kiện thì hình thành, hết điều kiện thì tan, không gì tự nhiên có một mình. Hiểu vậy giúp ta nhìn đời sáng suốt và biết gieo duyên lành.
Đ
Đại Thế Chí Bồ-tát
Một trong Tây Phương Tam Thánh, tượng trưng cho hạnh đại trí - trí tuệ sáng suốt. Ngài gắn với pháp niệm Phật qua chương Niệm Phật Viên Thông, dạy thu nhiếp sáu căn, giữ tịnh niệm nối nhau, nhớ Phật niệm Phật như con nhớ mẹ.
Đới nghiệp vãng sinh
Nghĩa là còn mang nghiệp cũ chưa dứt, nhưng nhờ hồi tâm sám hối, tín nguyện niệm Phật, nương nguyện lực Phật A Di Đà mà sinh về Cực Lạc để tu tiếp. Nghiệp cũ không tự mất ngay; nhân quả vẫn còn nguyên.
H
Hộ niệm
Hộ niệm là sự che chở, nâng đỡ của Phật và bạn đồng tu dành cho người tu: nương công đức và oai lực của Phật để tâm thêm vững. Đây là trợ duyên quý, nhưng không thay cho công phu tự tin, nguyện và tu hành của mỗi người.
Hồi hướng
Hồi hướng là đem công đức tu tập gửi về một hướng: cầu vãng sinh Cực Lạc và cầu lợi ích cho chúng sinh. Đây không phải đọc cho đủ bài hay đổi chác với Phật, mà gắn với tâm thiện và lòng thương người.
L
Lâm chung
Lâm chung là lúc sắp qua đời. Với người tu Tịnh Độ, đây là thời khắc quan trọng cần giữ tâm an, niệm Phật; người thân nên nói lời thương yêu, giữ không khí êm ấm, tuyệt đối không đem chuyện đáng sợ ra làm người sắp mất thêm hoảng loạn.
Luân hồi
Luân hồi là vòng sinh tử nối tiếp: chúng sinh theo nghiệp mà sinh đi sinh lại trong các cõi, hưởng hết phước thì lại đọa. Người tu Tịnh Độ nguyện sinh về Cực Lạc chính là để ra khỏi vòng luân hồi mà tu tới giác ngộ.
M
Mười sáu phép quán
Là mười sáu bước quán tưởng Đức Phật dạy bà Vi-đề-hi trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ, đi từ quán mặt trời lặn, quán nước, quán đất, cây báu... đến quán Phật A Di Đà cùng hai Bồ-tát và chín phẩm vãng sinh.
N
Nam mô A Di Đà Phật
Là câu niệm cốt lõi của người tu Tịnh Độ. "Nam mô" nghĩa là cung kính quay về, nương tựa; "A Di Đà Phật" là danh hiệu Đức Phật cõi Cực Lạc. Cả câu thể hiện lòng cung kính nương tựa Đức Phật.
Nghiệp
Nghiệp là hành động có chủ ý qua thân, miệng, ý, rồi để lại kết quả tương ứng. Đức Phật dạy mỗi người là chủ nhân của nghiệp mình; nghiệp không phải số phận cố định, mà có thể chuyển nếu ta đổi cách sống.
Ngũ giới
Ngũ giới là năm điều người Phật tử tại gia tự nguyện giữ: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không say nghiện rượu chè. Đây không phải cấm đoán áp đặt, mà là hàng rào bảo vệ chính mình và người chung quanh.
Nguyện lực
Nguyện lực A Di Đà là sức mạnh từ bốn mươi tám đại nguyện mà Tỳ-kheo Pháp Tạng đã phát và viên thành, lập nên cõi Cực Lạc và tiếp dẫn chúng sinh. Đây là trợ duyên lớn, song không thay việc mỗi người tự tu hành.
Nguyện thứ mười tám
Là lời nguyện được xem là cốt lõi của pháp môn Tịnh Độ: chúng sinh tin sâu, nguyện thiết, chí tâm niệm danh hiệu A Di Đà thì được tiếp dẫn về Cực Lạc. Đây là trợ duyên lớn, vẫn cần tu tâm sửa mình đi kèm.
Nhân quả
Nhân quả là quy luật tự nhiên: gieo nhân nào gặt quả nấy, như trồng cây nào ra trái nấy. Việc làm, lời nói, ý nghĩ thiện hay ác đều dẫn tới kết quả tương ứng; đây là lẽ gieo gặt, không phải sự trừng phạt.
Nhất tâm bất loạn
Là niệm Phật đến chỗ tâm gom về một mối, không còn tán loạn. Truyền thống chia hai mức: sự nhất tâm (tâm chuyên vào câu niệm) và lý nhất tâm (thấu tỏ tự tâm với Phật chẳng hai); người mới tu cứ vững nơi sự, chưa cần lo lý.
Niệm Phật
Niệm Phật là nhớ nghĩ và xưng danh hiệu A Di Đà Phật để quay tâm về điều lành, giữ tâm an và nuôi lớn Tín - Nguyện - Hạnh. Đây là pháp tu giản dị mà sâu, hợp với mọi người, dù bận rộn, ít chữ hay tuổi cao.
Niết-bàn
Niết-bàn là sự lắng dịu, chấm dứt phiền não và khổ đau khi buông được tham ái; đó là trạng thái an vui mát mẻ, không phải hư vô hay chấm hết như nhiều người lầm tưởng.
P
Phước đức
Phước đức là quả lành có được từ việc thiện như bố thí, giữ giới, giúp người. Phước đức do tâm và việc lành mà thành, không phải thứ đem tiền ra mua bán được.
Q
Quán Thế Âm Bồ-tát
Một trong Tây Phương Tam Thánh, tượng trưng cho hạnh đại bi - lòng thương cứu khổ rộng khắp. Niệm danh hiệu Ngài là để học mở lòng thương người và nương tâm từ, chứ không chỉ dừng ở việc kêu cầu khi gặp nạn.
Quy y Tam Bảo
Quy y Tam Bảo là quay về nương tựa Phật, Pháp, Tăng làm chỗ dựa cho đời sống tâm linh. Đây là bước đầu chính thức của người Phật tử, mang ý nghĩa phát nguyện sống theo điều thiện, không phải nghi lễ mong cầu điều may.
S
Sám hối
Sám hối là thành thật nhận ra lỗi mình đã làm, ăn năn rồi quyết tâm sửa, không tái phạm. Đây là việc chuyển hóa thân tâm để sống tốt hơn, không phải đọc vài câu hay cúng lễ để "đổi tội lấy phước".
T
Tam Bảo
Tam Bảo là ba ngôi báu: Phật, Pháp và Tăng. Phật là bậc giác ngộ chỉ đường; Pháp là lời dạy đưa đến hết khổ; Tăng là đoàn thể tu hành gìn giữ và trao truyền chánh pháp - là chỗ nương tựa sáng cho người học Phật.
Tây Phương Cực Lạc
Tây Phương Cực Lạc là cõi nước thanh tịnh do Phật A Di Đà lập nên bằng bản nguyện. "Cực Lạc" nghĩa là lìa mọi khổ, an vui đến từ sự thanh tịnh và thuận duyên tu học, chứ không phải nơi hưởng thụ khoái lạc; sinh về đó là để tu tới giác ngộ.
Tây Phương Tam Thánh
Là ba vị: Phật A Di Đà ở giữa, Quán Thế Âm và Đại Thế Chí hai bên - biểu tượng sống động của nguyện lực, từ bi và trí tuệ, cùng quy về việc niệm Phật cầu sinh Cực Lạc. Đây không phải bộ ba thần linh để cầu xin ban phát lợi lộc.
Tha lực
Tha lực là sức nâng đỡ từ nguyện lực và công đức của Phật A Di Đà. Trong Tịnh Độ, tha lực nương cùng tự lực chứ không đối nghịch: người tu vừa nương Phật vừa giữ Tín, Nguyện, Hạnh và tự sửa mình.
Thập thiện
Thập thiện là mười điều lành Đức Phật dạy, gồm ba nghiệp về thân, bốn về lời nói và ba về ý. Đây là nếp sống thật để gìn giữ mỗi ngày; giữ trọn thì thân, miệng, ý đều trong sạch, làm nền cho câu niệm Phật thêm sâu.
Tiếp dẫn
Tiếp dẫn là việc Phật A Di Đà, do bản nguyện, đón dẫn người niệm Phật lúc lâm chung về cõi Cực Lạc. Kinh dạy người nhất tâm niệm Phật đến lúc lâm chung được Phật và Thánh chúng hiện đến giúp tâm an mà vãng sinh.
Tín - Nguyện - Hạnh
Ba phần cốt yếu của người tu Tịnh Độ, nương nhau như ba chân một cái kiềng: Tín là tin sâu lời Phật và cõi Cực Lạc; Nguyện là tha thiết muốn sinh về đó tu học; Hạnh là chuyên cần niệm Phật. Thiếu một thì khó đứng vững.
Tịnh Độ
Tịnh Độ là pháp môn nương công đức và bản nguyện của Phật A Di Đà, niệm Phật cầu sinh về cõi Cực Lạc thanh tịnh để tu tới giác ngộ. Câu niệm dễ hành, vừa sức người bận rộn, ít chữ hay tuổi cao, nhưng dễ mà vẫn sâu sắc.
Tịnh niệm tương tục
Là câu niệm Phật trong sạch nối nhau liền lạc, ít bị tạp niệm xen vào. Đây là sự nhẹ nhàng thuần thục của công phu (nêu trong chương Đại Thế Chí, Kinh Thủ Lăng Nghiêm), không phải gồng ép tâm cho căng thẳng.
Trì danh niệm Phật
Trì danh niệm Phật là gìn giữ, xưng niệm danh hiệu A Di Đà liên tục để nhiếp tâm về một mối. Đây là pháp tu giản dị mà sâu, hợp mọi căn cơ (được Kinh A Di Đà nêu rõ); câu niệm không phải "thần chú có phép lạ" mà là cách quay tâm về Phật.
Trí tuệ
Trí tuệ trong đạo Phật là khả năng thấy rõ sự thật của đời sống, nhờ đó hết mê lầm và bớt khổ. Đó không phải kiến thức suông hay học rộng để khoe, mà là cái thấy sáng giúp ta sống đúng, luôn đi cùng lòng từ bi.
Trợ niệm
Trợ niệm là việc người thân, bạn đồng tu trợ duyên cho người sắp ra đi bằng câu Phật hiệu và không khí an lành, làm với lòng từ bi và tôn trọng. Trợ niệm nên đi cùng chăm sóc y tế, không thay thầy thuốc và không ép buộc ai.
Từ bi
Từ bi là lòng thương rộng lớn: "từ" là mong cho người được vui, "bi" là muốn giúp người bớt khổ. Đó không phải sự yếu mềm hay nuông chiều cái sai, mà là tình thương sáng suốt, luôn đi cùng trí tuệ.
Tứ Diệu Đế
Tứ Diệu Đế là bốn sự thật cao quý Đức Phật dạy trong bài pháp đầu tiên: có khổ, có nguyên nhân của khổ, có sự chấm dứt khổ, và có con đường đưa đến chấm dứt khổ. Đây là cốt lõi giúp ta hiểu và thoát khổ.
Tự lực
Tự lực là công phu tu tập của chính mình - giữ giới, sửa tâm, chuyên cần niệm Phật. Trong Tịnh Độ, tự lực nương cùng tha lực (sức Phật nâng đỡ), hai bên bổ túc nhau chứ không đối nghịch.
V
Vãng sinh
Vãng sinh là sinh về cõi Cực Lạc của Phật A Di Đà sau khi mãn đời này, nhờ tín nguyện niệm Phật và nương nguyện lực của Ngài. Sinh về đó là để tiếp tục tu học trong môi trường thuận lợi cho tới ngày giác ngộ.
Vô lượng quang
Vô Lượng Quang nghĩa là "ánh sáng vô lượng" (tiếng Phạn Amitābha), một nghĩa của danh hiệu A Di Đà. Ánh sáng ấy chỉ trí tuệ soi tan mê lầm và lòng từ bi nâng đỡ chúng sinh, nhắc người tu nhớ Phật mà sống thiện.
Vô lượng thọ
Vô Lượng Thọ nghĩa là "thọ mạng vô lượng" (tiếng Phạn Amitāyus), một nghĩa của danh hiệu A Di Đà. Nghĩa này nói lên công đức giáo hóa lâu dài, không cùng tận của Phật, không giới hạn như đời sống ngắn ngủi của chúng sinh.
Vô ngã
Vô ngã nghĩa là không có một cái "tôi" cố định, riêng biệt, làm chủ tất cả; cái ta quen gọi là tôi thật ra do thân và tâm nương nhau mà thành, luôn đổi thay. Hiểu vô ngã giúp bớt chấp ngã, bớt ích kỷ, sống khiêm nhường hơn.