IX. Tây Phương Tam Thánh

Quán Thế Âm Bồ-tát tượng trưng cho hạnh gì?

Trong Tây Phương Tam Thánh, Quán Thế Âm Bồ-tát tượng trưng cho hạnh đại bi, lòng thương cứu khổ rộng khắp. Niệm danh hiệu Ngài là để học mở lòng thương người và nương tâm từ, chứ không chỉ dừng ở chỗ kêu cầu cứu giúp khi gặp nạn.

Nội dung giáo lý

Trong Tây Phương Tam Thánh, Quán Thế Âm Bồ-tát đứng một bên Đức Phật A Di Đà, tượng trưng cho hạnh đại bi, tức lòng thương cứu khổ. Bốn chữ Quán Thế Âm có nghĩa là lắng nghe tiếng kêu cứu của cõi đời mà tìm đến cứu giúp.

Kinh Phổ Môn tả Ngài quán xét tiếng khổ của chúng sinh, người thành tâm xưng niệm danh hiệu Ngài được thêm niềm tin, tâm an và lòng từ bi, còn sự việc bên ngoài vẫn theo nhân duyên và nhân quả. Nhờ vậy, từ xưa người dân vẫn quen niệm Quán Thế Âm khi gặp tai ách, bệnh khổ, lòng bất an.

Nhưng nếu chỉ hiểu Quán Thế Âm là nơi để kêu cầu cứu giúp khi gặp nạn thì còn thiếu. Ngài là biểu tượng của lòng từ bi, nên niệm danh hiệu Ngài cũng là nhắc mình tập sống thương người, biết lắng nghe nỗi khổ của kẻ khác, ra tay giúp đỡ trong khả năng của mình.

Vì thế, học hạnh Quán Thế Âm không phải chỉ là cầu xin Ngài, mà là tập làm một Quán Thế Âm nhỏ giữa đời, mang lòng thương ấy vào cách đối xử với mọi người chung quanh.

Ý nghĩa thực hành

Quý vị có thể biến lòng tin nơi Quán Thế Âm thành một cách sống mỗi ngày. Khi niệm danh hiệu Ngài, ngoài việc cầu cho mình được bình an, hãy thêm một ý nguyện nhỏ: xin cho con biết thương người như Ngài thương chúng sinh. Rồi trong ngày, mỗi khi thấy ai đó khổ, mình thử dừng lại lắng nghe và giúp một việc vừa sức. Chẳng hạn, một bác hay niệm Quán Thế Âm, dần dần tập tính nhẫn nhịn với con dâu, lại hay để dành chút quà cho mấy cháu nhỏ nhà nghèo bên cạnh; ấy là bác đang học hạnh đại bi một cách thiết thực. Quý vị đừng nghĩ chỉ lúc hoạn nạn mới cần tới Ngài, mà hãy để hình ảnh Quán Thế Âm nhắc mình mở lòng mỗi ngày. Khi lòng thương người lớn lên, tự nhiên tâm mình cũng an, và đó cũng là chỗ nương cho việc niệm Phật cầu sinh Cực Lạc.

Một vài điều dễ lầm

Không nên chỉ hiểu Quán Thế Âm Bồ-tát là nơi để kêu cầu cứu giúp khi gặp nạn, mà quên rằng Ngài là biểu tượng của hạnh đại bi để mình noi theo.

Xem thêm điều dễ lầm
  • Nên hiểu niệm danh hiệu Quán Thế Âm là nhắc mình tập sống thương người, biết lắng nghe và giúp đỡ nỗi khổ của người khác.
  • Không nên xem Quán Thế Âm như một vị thần chuyên ban điều mình muốn theo lối đổi chác, mà nên thấy Ngài là tấm gương của lòng từ bi.
  • Nên nhớ trong Tam Thánh, Quán Thế Âm cùng Đại Thế Chí trợ duyên cho hạnh nguyện tiếp dẫn của Đức Phật A Di Đà, không tách rời trọng tâm niệm Phật.
  • Không nên dừng ở chỗ chiêm bái hình tượng, mà nên đem lòng thương người vào đời sống gia đình và những người chung quanh.

Hiểu sâu hơn

Mở phần chuyên sâu

Quán Thế Âm Bồ-tát là một trong hai vị Bồ-tát hầu cận Đức Phật A Di Đà trong bộ Tây Phương Tam Thánh, đứng một bên Ngài. Trong cả ba vị, Quán Thế Âm tiêu biểu cho hạnh đại bi, nghĩa là lòng thương cứu khổ rộng lớn trải khắp muôn loài. Chính danh hiệu của Ngài đã nói lên điều ấy: Quán Thế Âm có nghĩa là quán xét, lắng nghe tiếng kêu của thế gian mà tìm tới cứu giúp.

Hạnh nguyện này được trình bày khá rõ trong phẩm Phổ Môn của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Taishō 262. Theo phẩm này, Bồ-tát Quán Thế Âm quán sát âm thanh khổ não của chúng sinh khắp nơi; ai gặp tai ách, sợ hãi, nếu một lòng xưng niệm danh hiệu Ngài thì được Ngài tầm thanh cứu khổ, tùy duyên hiện thân để hóa độ. Đây là cơ sở của lòng tin lâu đời nơi dân chúng, vẫn quen niệm Quán Thế Âm mỗi khi hoạn nạn, ốm đau hay lòng bất an. Nét tín ngưỡng ấy đáng quý, vì nó nuôi dưỡng niềm tin và đem lại chỗ nương tinh thần cho người trong cơn khổ.

Tuy vậy, người học đạo cần đi xa hơn một bước, để không dừng lại ở chỗ chỉ xem Quán Thế Âm là nơi kêu cầu cứu giúp. Trong tinh thần nhà Phật, một vị Bồ-tát không phải là vị thần ban phát điều ta muốn theo lối đổi chác, mà trước hết là một tấm gương của phẩm hạnh để người tu noi theo. Quán Thế Âm là hiện thân của lòng từ bi; vì thế, niệm danh hiệu Ngài cũng đồng thời là tự nhắc mình tập mở lòng thương người, biết lắng nghe và san sẻ nỗi khổ của kẻ khác. Người hiểu đúng sẽ thấy: cầu Bồ-tát và học theo Bồ-tát phải đi cùng nhau.

Đặt trong bộ Tây Phương Tam Thánh, ý nghĩa này càng rõ. Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Taishō 365, mô tả Quán Thế Âm cùng Đại Thế Chí thường theo Đức Phật A Di Đà hiện đến tiếp dẫn người niệm Phật lúc lâm chung. Như vậy, lòng đại bi của Quán Thế Âm không tách rời mà quy về và phụng sự cho hạnh nguyện tiếp dẫn của Đức Phật ở giữa. Người tu Tịnh Độ học hạnh Quán Thế Âm chính là để lòng thương người ấy nâng đỡ và làm trong sạch tâm niệm Phật của mình.

Vì vậy, hiểu cho trọn thì niệm Quán Thế Âm vừa là nương vào lòng từ bi của Ngài để được an ủi che chở, vừa là phát nguyện tập làm theo hạnh ấy giữa đời thường. Một người vừa thành tâm xưng niệm danh hiệu Ngài, vừa tập nhẫn nhịn, biết giúp người trong khả năng của mình, thì mới thật sự gần với Bồ-tát. Khi lòng thương lớn lên, tâm tự lắng dịu, và đó là chỗ tựa vững cho việc niệm Phật cầu sinh Cực Lạc.

Nguồn tham khảo

  • Kinh Diệu Pháp Liên Hoa — Quán Thế Âm Bồ-tát Phổ Môn Phẩm, Taishō 262
  • Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Taishō 365
  • CBETA — T262, T365
  • Bản Việt đã duyệt: HT Thích Trí Tịnh — Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, ba kinh Tịnh Độ

Bài liên quan