IX. Tây Phương Tam Thánh

Niệm Quán Thế Âm trong pháp môn Tịnh Độ

Người tu Tịnh Độ vẫn có thể niệm Quán Thế Âm để cầu an, học hạnh từ bi, nhưng trọng tâm của pháp môn vẫn là niệm danh hiệu Đức Phật A Di Đà cầu vãng sinh. Niệm Quán Thế Âm là trợ duyên đi cùng, không nên thay thế trọng tâm ấy một cách tùy tiện.

Nội dung giáo lý

Nhiều quý vị tu Tịnh Độ vẫn quen niệm Quán Thế Âm Bồ-tát, nhất là khi trong nhà có người đau ốm hay gặp việc bất an. Đây là điều bình thường và đáng quý, vì Quán Thế Âm là biểu tượng của lòng từ bi cứu khổ.

Tuy nhiên, cần phân biệt cho rõ trọng tâm. Pháp môn Tịnh Độ lấy việc niệm danh hiệu Đức Phật A Di Đà, nương nguyện lực của Ngài để cầu vãng sinh Cực Lạc làm chính. Niệm Quán Thế Âm là một trợ duyên đẹp, giúp lòng mình an, nuôi tâm từ, nhưng không nên đem thay hẳn cho việc niệm Phật A Di Đà.

Thật ra hai việc không hề mâu thuẫn. Quán Thế Âm là vị Bồ-tát hầu cận Đức Phật A Di Đà ngay trong bộ Tam Thánh, cùng Ngài tiếp dẫn người niệm Phật. Vì thế niệm Quán Thế Âm vẫn quy về cùng một cõi, cùng một hướng.

Lời khuyên cho người tu là: cứ giữ câu niệm A Di Đà Phật làm chính trong thời khóa; khi cần cầu an hay muốn nuôi lòng thương, thêm niệm Quán Thế Âm cũng tốt, miễn đừng để trọng tâm vãng sinh bị lu mờ.

Ý nghĩa thực hành

Quý vị có thể sắp xếp thời khóa cho gọn mà không rối. Mỗi ngày, hãy giữ một thời niệm A Di Đà Phật làm chính, đây là cốt lõi của người tu Tịnh Độ. Khi trong nhà có người ốm đau, hay lòng mình bất an, quý vị có thể thêm một thời niệm Quán Thế Âm Bồ-tát để cầu an và nuôi lòng thương, rồi hồi hướng tất cả về cầu sinh Cực Lạc. Chẳng hạn, một bác có con dâu sắp sinh nở, mấy hôm ấy bác niệm thêm Quán Thế Âm cho mẹ tròn con vuông, nhưng thời khóa chính vẫn là niệm A Di Đà Phật như thường lệ; ấy là cách giữ trọng tâm mà vẫn linh động. Quý vị đừng vì thấy niệm Quán Thế Âm dễ cảm ứng cầu an mà bỏ luôn việc niệm Phật A Di Đà, kẻo lệch mất hướng vãng sinh. Hiểu rõ cái nào là chính, cái nào là trợ duyên, thì đường tu vừa ấm áp vừa vững vàng.

Một vài điều dễ lầm

Không nên đem việc niệm Quán Thế Âm thay hẳn cho việc niệm danh hiệu Đức Phật A Di Đà, vì trọng tâm pháp môn Tịnh Độ là cầu vãng sinh nương nguyện lực của Ngài.

Xem thêm điều dễ lầm
  • Nên hiểu niệm Quán Thế Âm là một trợ duyên đẹp để cầu an và nuôi lòng từ, đi cùng chứ không thay thế việc niệm Phật A Di Đà.
  • Không nên nghĩ niệm Quán Thế Âm và niệm A Di Đà mâu thuẫn nhau, vì Quán Thế Âm là vị Bồ-tát hầu cận, cùng tiếp dẫn người niệm Phật.
  • Nên giữ câu niệm A Di Đà Phật làm chính trong thời khóa, khi cần cầu an hay nuôi tâm thương người thì thêm niệm Quán Thế Âm.
  • Không nên chỉ vì thấy niệm Quán Thế Âm dễ cầu an mà bỏ quên hướng vãng sinh Cực Lạc, kẻo trọng tâm tu hành bị lu mờ.

Hiểu sâu hơn

Mở phần chuyên sâu

Trong đời sống tu tập của người Phật tử Việt Nam, việc niệm Quán Thế Âm Bồ-tát rất phổ biến, đặc biệt mỗi khi gia đình có người đau ốm, gặp tai ách hay lòng bất an. Câu hỏi đặt ra là: người chuyên tu pháp môn Tịnh Độ có nên niệm Quán Thế Âm hay không, và nếu có thì niệm thế nào cho đúng, để không làm lệch trọng tâm của pháp môn.

Trước hết cần khẳng định rằng niệm Quán Thế Âm là điều đáng quý. Phẩm Phổ Môn trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Taishō 262, dạy rằng Bồ-tát Quán Thế Âm tầm thanh cứu khổ, người thành tâm xưng niệm danh hiệu Ngài được thêm niềm tin và tâm an, nương lòng từ mà vượt qua, còn mọi việc vẫn theo nhân duyên và nhân quả. Vì thế, niệm Quán Thế Âm để cầu an, để nuôi dưỡng lòng thương người, là một việc lành, phù hợp với tinh thần từ bi của nhà Phật. Người tu Tịnh Độ hoàn toàn có thể làm việc ấy.

Tuy nhiên, người tu cần phân biệt rõ đâu là trọng tâm, đâu là trợ duyên. Pháp môn Tịnh Độ, theo Kinh A Di Đà và các kinh Tịnh Độ khác, lấy việc tin sâu, nguyện thiết và chấp trì danh hiệu Đức Phật A Di Đà để cầu vãng sinh Cực Lạc làm cốt lõi. Đây là con đường chính mà người tu nương theo. Niệm Quán Thế Âm là một trợ duyên đẹp đẽ đi bên cạnh, giúp lòng được an, tâm từ được nuôi lớn, nhưng không nên đem thay thế hẳn cho việc niệm Phật A Di Đà một cách tùy tiện. Nếu vì thấy niệm Quán Thế Âm cầu an dễ có cảm ứng mà dần bỏ quên câu niệm A Di Đà, thì trọng tâm vãng sinh sẽ bị lu mờ, đường tu mất phương hướng.

Điều an ủi là hai việc này không hề mâu thuẫn, mà thật ra rất hòa hợp. Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Taishō 365, cho thấy Quán Thế Âm chính là vị Bồ-tát hầu cận Đức Phật A Di Đà trong bộ Tây Phương Tam Thánh, cùng Đại Thế Chí theo Đức Phật hiện đến tiếp dẫn người niệm Phật lúc lâm chung. Như vậy, niệm Quán Thế Âm và niệm A Di Đà cùng quy về một cõi, cùng một hướng giải thoát. Lòng từ bi của Quán Thế Âm không kéo người tu đi đâu khác, mà nâng đỡ và làm trong sạch tâm cầu vãng sinh.

Vì thế, lời khuyên thiết thực là: hãy giữ câu niệm A Di Đà Phật làm chính trong thời khóa mỗi ngày, coi đó là cốt lõi của đời tu Tịnh Độ. Khi cần cầu an cho người thân, hay khi muốn nuôi lòng thương rộng hơn, có thể thêm thời niệm Quán Thế Âm, rồi hồi hướng tất cả về cầu sinh Cực Lạc. Hiểu rõ cái nào là chính, cái nào là trợ duyên, người tu sẽ vừa giữ được sự ấm áp của lòng tin dân gian, vừa không đánh mất trọng tâm vững chãi của pháp môn niệm Phật.

Nguồn tham khảo

  • Kinh Diệu Pháp Liên Hoa — Quán Thế Âm Bồ-tát Phổ Môn Phẩm, Taishō 262
  • Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Taishō 365
  • CBETA — T262, T365
  • Bản Việt đã duyệt: HT Thích Trí Tịnh — Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, ba kinh Tịnh Độ

Bài liên quan