VIII. Cõi Tây Phương Cực Lạc

Vì sao gọi Tây Phương

Kinh dạy cõi Cực Lạc ở phương Tây, nên người tu cứ y lời kinh mà hướng về. Ta không cần tranh đông tây theo địa lý vật lý; cốt yếu là ý hướng tâm: nương hướng Tây để gom lòng nhớ Phật A Di Đà.

Nội dung giáo lý

Người tu Tịnh Độ thường nghe nói cõi Cực Lạc ở phương Tây, nên hay thắc mắc: vì sao lại là hướng Tây, và cõi ấy có thật nằm ở phía tây theo bản đồ không? Đây là chỗ nên hiểu cho nhẹ nhàng.

Trước hết, sở dĩ nói phương Tây là vì kinh dạy như vậy. Kinh A Di Đà và Kinh Vô Lượng Thọ đều nói cõi Cực Lạc ở phương Tây, cách cõi này rất xa. Người tu cứ y theo lời kinh mà hướng về; đó là thái độ khiêm cung và đúng đắn, không cần tự chứng minh hay bác bỏ bằng kiến thức địa lý.

Điều quan trọng hơn là ta không nên sa vào tranh luận đông tây theo nghĩa vật lý thô. Trái đất tròn và xoay, nên hướng tây chỉ là tương đối; chấp vào đó mà cãi nhau là lạc khỏi ý kinh. Lời kinh chỉ phương Tây trước hết để người tu có một hướng cụ thể mà gom lòng về một mối, nhớ tới Đức Phật A Di Đà. Hướng Tây vì thế mang ý hướng tâm: giúp tâm có chỗ nương, có điểm tựa để phát khởi niệm và nguyện cho chuyên nhất.

Ý nghĩa thực hành

Với người tại gia, quý vị đừng để chuyện đông tây làm bận lòng khi niệm Phật. Theo lệ xưa, nhiều người lập bàn thờ Phật quay mặt về hướng Tây để khi lễ niệm thì mặt mình hướng về cõi Cực Lạc, lấy đó nhắc lòng nhớ Phật. Nếu nhà cửa chật hẹp không tiện xoay đúng hướng, quý vị cứ an tâm: cốt ở lòng thành và tâm hướng về Phật, chứ không phải ở chuyện đo đúng phương vị. Khi niệm Phật, quý vị hãy mượn ý hướng Tây để gom tâm lại: tưởng như mình đang quay lòng về nơi Đức Phật A Di Đà, buông các lo nghĩ tản mác, dồn cả vào câu danh hiệu. Chẳng hạn, một bác kể mỗi lần niệm Phật, bác nhắm mắt tưởng mình hướng về phương Tây an lành, nhờ vậy tâm bớt lăng xăng, câu niệm liền lạc hơn. Quý vị cứ dùng hướng Tây như chỗ tựa cho tâm, ấy là hiểu đúng ý kinh.

Một vài điều dễ lầm

Không nên sa vào tranh luận cõi Cực Lạc có thật nằm ở phía tây theo bản đồ địa lý hay không.

Xem thêm điều dễ lầm
  • Nên hiểu nói phương Tây trước hết là vì kinh dạy như vậy, người tu cứ khiêm cung y theo lời kinh mà hướng về.
  • Không nên chấp hướng tây vật lý rồi cãi nhau, vì trái đất tròn và xoay nên phương hướng chỉ là tương đối.
  • Nên hiểu hướng Tây mang ý hướng tâm: giúp người tu có một hướng cụ thể để gom lòng nhớ Phật A Di Đà.
  • Không nên cho rằng phải đo đúng phương vị mới niệm Phật được, vì cốt yếu là lòng thành và tâm hướng về Phật.

Hiểu sâu hơn

Mở phần chuyên sâu

Câu hỏi vì sao cõi Cực Lạc được gọi là Tây Phương tuy đơn giản nhưng dễ dẫn người ta đi lạc, nếu sa vào tranh luận địa lý. Vì vậy cần đặt vấn đề cho đúng tầm và trả lời theo tinh thần lời kinh, với thái độ chừng mực, lấy lời kinh làm gốc và lấy lợi ích tu hành làm hướng.

Điểm thứ nhất, nền tảng của cách gọi này là lời kinh. Kinh A Di Đà mở đầu bằng câu nói từ cõi này đi về phương Tây, qua mười muôn ức cõi Phật, có một thế giới tên là Cực Lạc. Kinh Vô Lượng Thọ cũng đặt cõi ấy ở phương Tây. Như vậy, gọi Tây Phương trước hết không phải do người sau tự nghĩ ra, mà là y theo lời Đức Phật dạy trong kinh. Thái độ đúng đắn của người tu là khiêm cung tin nhận lời kinh, chứ không vội đem hiểu biết hữu hạn của mình ra để chứng minh hoặc bác bỏ.

Điểm thứ hai, cần tránh lối chấp hướng tây theo nghĩa vật lý thô. Có người đem chuyện trái đất hình cầu, tự xoay và xoay quanh mặt trời ra để hỏi vặn: vậy hướng tây là tây của ai, đứng ở đâu mà xác định? Tranh luận theo kiểu ấy tuy nghe có lý về mặt khoa học thường thức, nhưng lại lạc khỏi ý kinh. Bởi lời kinh nói tới những cõi nước cách nhau vô số thế giới, vượt ngoài phạm vi đo đạc của bản đồ trần gian; đem thước đo địa lý của một hành tinh ra áp vào đó là không tương ứng. Người tu khôn ngoan sẽ không biến một chỉ dẫn để nhiếp tâm thành đề tài cãi vã hơn thua.

Điểm thứ ba, và là chỗ cốt yếu, hướng Tây mang ý hướng tâm và biểu pháp. Đức Phật dạy pháp luôn nhằm lợi ích cho việc tu, nên một chỉ dẫn về phương hướng cũng có công dụng nhiếp tâm. Khi người tu được chỉ một phương cụ thể để hướng về, tâm vốn hay tản mác liền có chỗ nương, có điểm tựa để gom về một mối mà nhớ Đức Phật A Di Đà. Theo cách cảm nhận của truyền thống tu tập, hướng Tây nơi mặt trời lặn còn gợi ý buông bỏ, quay về, lắng lại sau một ngày, hợp với tâm tình hướng về cõi an tịnh. Những ý này nên hiểu là gợi mở để nuôi lòng tin và sự nhiếp tâm, chứ không nên quả quyết thành giáo điều cứng nhắc; đó là lý do bài này giữ mức tin cậy vừa phải.

Gom lại, câu trả lời an toàn và lợi lạc cho người tu là: nói Tây Phương vì kinh dạy như vậy, ta cứ y lời kinh mà hướng về; đừng sa vào tranh đông tây vật lý vốn không phải chỗ kinh muốn nói; hãy nhận lấy ý hướng tâm của nó để gom lòng niệm Phật cho chuyên nhất. Người xưa thường lập bàn thờ Phật quay về hướng Tây để mỗi lần lễ niệm thì mặt hướng về cõi Cực Lạc, lấy đó nhắc lòng. Nhưng nếu nhà cửa không cho phép, thì cốt yếu vẫn ở lòng thành và tâm hướng về Phật, chứ không ở việc đo cho đúng phương vị. Hiểu vậy, người tu vừa giữ được lòng tin nơi lời kinh, vừa không rơi vào chấp tướng hay tranh luận vô bổ.

Nguồn tham khảo

  • Kinh A Di Đà, Taishō 366
  • Kinh Vô Lượng Thọ, Taishō 360
  • CBETA — T366
  • CBETA — T360
  • BDK English Tripiṭaka — The Three Pure Land Sutras
  • Bản Việt đã duyệt: HT Thích Trí Tịnh — ba kinh Tịnh Độ

Bài liên quan