VIII. Cõi Tây Phương Cực Lạc

Cõi Cực Lạc trong Kinh A Di Đà

Bài này không tả lại cảnh Cực Lạc mà hỏi vì sao Kinh A Di Đà dựng nên cảnh ấy: cốt để khơi lòng tin và khích lệ chúng sinh phát nguyện sinh về tu học. Phần tả cảnh chi tiết xem bài cùng chủ đề ở mục Kinh điển.

Nội dung giáo lý

Kinh A Di Đà dành nhiều lời tả cõi Cực Lạc với ao bảy báu, hàng cây báu và tiếng chim diễn pháp. Phần tả cảnh chi tiết theo lời kinh đã có ở bài cùng chủ đề trong mục Kinh điển; ở đây ta chỉ điểm tên cảnh và hỏi một câu khác: vì sao Đức Phật lại dựng nên cảnh ấy?

Đức Phật Thích Ca tả cõi Cực Lạc không phải để khoe một nơi đẹp đẽ cho người ta ham hưởng thụ. Mục đích sâu xa là khơi lòng tin và khích lệ chúng sinh phát nguyện sinh về. Khi nghe cõi ấy thanh tịnh, không các khổ, luôn vang pháp âm, người ta sinh lòng ngưỡng mộ, rồi từ ngưỡng mộ mà phát nguyện, từ phát nguyện mà chuyên cần niệm Phật.

Nói cách khác, mỗi nét trang nghiêm trong kinh đều hướng tới việc khơi dậy Tín và Nguyện nơi người nghe. Cảnh đẹp ấy là phương tiện để dẫn lòng người về một chí nguyện tu hành, chứ không phải đích để dừng lại mà ngắm. Hiểu được ý ấy, người tu đọc kinh sẽ không dừng ở cảnh, mà nương cảnh để khởi nguyện sinh về tu học.

Ý nghĩa thực hành

Khi đọc đoạn Kinh A Di Đà tả cõi Cực Lạc, quý vị hãy đọc với một câu hỏi trong lòng: Đức Phật tả cảnh này để mong nơi mình điều gì? Câu trả lời là để mình tin và phát nguyện sinh về tu học. Đọc như vậy, lòng quý vị sẽ không dừng ở chỗ trầm trồ cảnh đẹp, mà chuyển thành chí nguyện. Sau mỗi lần đọc hay nghe đoạn ấy, quý vị thử thầm phát một lời nguyện ngắn: nguyện sinh về Cực Lạc để được gần Phật, nghe pháp, tu cho tới ngày giác ngộ. Lời nguyện ấy nối liền cảnh trong kinh với việc niệm Phật hằng ngày của mình. Chẳng hạn, một bác kể mỗi lần tụng tới đoạn tả ao sen, cây báu, bác không mải hình dung cho đẹp, mà liền nhắc lòng phải ráng niệm Phật để có ngày được sinh về nơi an lành ấy. Quý vị cứ lấy cảnh kinh làm cớ khơi nguyện như thế.

Một vài điều dễ lầm

Không nên hiểu Kinh A Di Đà tả cõi Cực Lạc cốt để khoe một nơi đẹp đẽ cho người ta ham hưởng thụ.

Xem thêm điều dễ lầm
  • Nên hiểu mục đích sâu xa của việc tả cảnh là khơi lòng tin và khích lệ chúng sinh phát nguyện sinh về tu học.
  • Không nên dừng lại ở chỗ trầm trồ cảnh đẹp mà quên chuyển lòng ngưỡng mộ ấy thành chí nguyện và việc niệm Phật.
  • Nên hiểu mỗi nét trang nghiêm trong kinh là phương tiện hướng tới khơi dậy Tín và Nguyện nơi người nghe.
  • Không nên thêm thắt chi tiết không có trong kinh khi nói về cảnh Cực Lạc, mà giữ đúng những gì kinh đã dạy.

Hiểu sâu hơn

Mở phần chuyên sâu

Bài này bàn về Cực Lạc trong Kinh A Di Đà từ một góc riêng, nên cần nói rõ ngay ranh giới để khỏi trùng lặp. Phần mô tả chi tiết cõi Cực Lạc theo lời kinh, gồm ao bảy báu nước tám công đức, hàng cây báu, lưới báu, hoa sen và các loài chim do Đức Phật hóa hiện diễn nói pháp lành, đã được trình bày đầy đủ ở bài cùng chủ đề trong mục Kinh điển; quý vị nên xem ở đó. Tại đây, ta chỉ điểm tên những cảnh ấy, không tả lại, mà đặt một câu hỏi khác: vì sao Đức Phật Thích Ca lại dựng nên một bức tranh trang nghiêm như vậy khi giảng kinh? Hiểu được dụng ý ấy mới nắm được tinh thần đoạn kinh.

Muốn trả lời, hãy nhìn vào cách Đức Phật giảng kinh này. Kinh A Di Đà thuộc loại vô vấn tự thuyết, nghĩa là không ai hỏi mà Đức Phật tự nói ra, cho ngài Xá-lợi-phất và đại chúng. Điều đó cho thấy Ngài chủ động giới thiệu cõi Cực Lạc vì thấy đây là pháp môn lợi ích lớn. Một khi đã chủ động giới thiệu, cách Ngài tả cảnh hẳn phải phục vụ một mục đích giáo hóa, chứ không phải kể chuyện cho vui tai.

Mục đích ấy, theo tinh thần của kinh, là khơi dậy Tín và Nguyện. Tâm chúng sinh vốn nặng về cảnh: thấy cảnh khổ thì chán, thấy cảnh lành thì ưa. Đức Phật khéo dùng đặc điểm ấy, đem cảnh thanh tịnh trang nghiêm của Cực Lạc ra trình bày, để người nghe sinh lòng ngưỡng mộ và tin có một cõi an lành như thế. Từ lòng tin ấy mới nảy ra ý nguyện muốn sinh về. Và chính trong kinh, sau khi tả cảnh, Đức Phật liền khuyên chúng sinh phát nguyện sinh về, rồi dạy phương pháp chấp trì danh hiệu. Mạch kinh đi rất rõ: tả cảnh để sinh tín, sinh tín để phát nguyện, phát nguyện để khởi hạnh niệm Phật. Cảnh trang nghiêm đứng đầu mạch ấy, làm nhiệm vụ khơi mở.

Từ đây rút ra một điều quan trọng để khỏi hiểu lệch. Cảnh đẹp trong kinh là phương tiện thiện xảo, không phải đích đến. Nếu người đọc dừng lại ở chỗ hình dung cảnh cho thật đẹp rồi ham thích như ham một nơi du ngoạn, thì đã hiểu ngược ý Phật, biến phương tiện khơi nguyện thành đối tượng để tham. Ngược lại, nếu nương cảnh mà khởi được lòng tin và chí nguyện tu hành, mới đúng là dùng kinh đúng cách. Cũng cần giữ một sự cân bằng: nói cảnh là phương tiện không có nghĩa phủ nhận cõi Cực Lạc là có thật theo lời kinh; kinh khẳng định có cõi ấy, và việc tả cảnh vừa nói lên sự thật trang nghiêm của cõi, vừa làm công cụ khơi tín nguyện. Hai mặt ấy không mâu thuẫn.

Một lưu ý nữa về thái độ trung thực với lời kinh: khi nói về cảnh Cực Lạc, người tu chỉ nên y theo những gì kinh đã dạy, không tự thêm thắt chi tiết cho ly kỳ. Giữ đúng lời kinh cũng là một cách tôn trọng Phật pháp và giữ lòng tin trong sáng. Tóm lại, Kinh A Di Đà dựng cảnh Cực Lạc cốt để khơi tín, dẫn nguyện, mở hạnh; người tu hãy nương cảnh ấy mà phát nguyện sinh về tu học, đó là nắm được điều Đức Phật gửi gắm.

Nguồn tham khảo

  • Kinh A Di Đà, Taishō 366
  • CBETA — T366
  • BDK English Tripiṭaka — The Three Pure Land Sutras
  • Bản Việt đã duyệt: HT Thích Trí Tịnh — Kinh A Di Đà

Bài liên quan