V. Tín – Nguyện – Hạnh
Tin tự tâm
Tin tự tâm là tin rằng tâm mình vốn có khả năng giác ngộ, niệm Phật cũng là việc tu sửa và làm sáng cái tâm ấy. Hiểu theo truyền thống chú giải, tâm tịnh thì cõi tịnh, nhưng điều này không phủ nhận thật có cõi Tây Phương Cực Lạc.
Nội dung giáo lý
Bên cạnh tin Phật, tin cõi Cực Lạc và tin nhân quả, người tu Tịnh Độ còn được khuyên tin nơi tự tâm. Tin tự tâm nghĩa là tin rằng tâm mình vốn có khả năng giác ngộ, có thể được làm sáng nhờ tu hành, và việc niệm Phật cũng chính là cách tu sửa, gạn lọc cái tâm ấy mỗi ngày.
Theo truyền thống chú giải Tịnh Độ, có lời dạy tâm tịnh thì cõi tịnh, ý nói khi tâm mình thanh tịnh thì cảm được cảnh giới thanh tịnh, và niệm Phật A Di Đà cũng là khơi dậy tánh sáng sẵn có nơi mình. Đây là cách nói nhằm nhắc người tu đừng tìm cầu ở đâu xa mà quên xoay lại tu tâm.
Tuy nhiên, nên hiểu cho cân: tin tự tâm không hề phủ nhận thật có cõi Tây Phương Cực Lạc và bản nguyện tiếp dẫn của Đức A Di Đà như kinh đã dạy. Tự tâm và Cực Lạc không chống nhau, mà soi sáng cho nhau. Vừa lo tu tâm, vừa phát nguyện vãng sinh, đó mới là cách hiểu trọn vẹn.
Ý nghĩa thực hành
Quý vị có thể đem lòng tin tự tâm vào việc tu mỗi ngày một cách giản dị. Khi niệm Phật, hãy nhớ rằng mỗi câu niệm không chỉ hướng ra ngoài cầu Phật, mà còn quay vào trong để gạn lọc tâm mình cho bớt tham, bớt giận, bớt si. Niệm Phật mà tâm dần lắng, dần hiền, đó là dấu hiệu tánh sáng nơi mình đang được khơi lên. Có bác kể, trước hay cau có với con cháu, từ ngày chuyên tâm niệm Phật và để ý sửa tâm, bác thấy lòng nhẹ hơn, nói năng hòa nhã hơn, nhà cửa nhờ đó êm ấm. Đó là tin tự tâm đi liền với hành trì. Nhưng quý vị cũng đừng vì lo tu tâm mà bỏ phát nguyện vãng sinh; hãy vừa gắng làm sáng tâm mình, vừa thành tâm nguyện sinh về Cực Lạc để tu học tiếp. Hai việc ấy nương nhau, không hề trái nhau.
Một vài điều dễ lầm
Không nên hiểu tin tự tâm là phủ nhận thật có cõi Tây Phương Cực Lạc của Đức A Di Đà.
Xem thêm điều dễ lầm
- Không nên cho rằng đã có tâm là đủ, khỏi cần phát nguyện vãng sinh hay niệm Phật.
- Nên hiểu tâm tịnh thì cõi tịnh là cách nhắc xoay vào tu tâm, không phải để bác bỏ Cực Lạc.
- Không nên tách rời tu tâm với cầu vãng sinh, vì hai phần ấy nương nhau soi sáng.
- Nên hiểu niệm Phật vừa hướng về Đức A Di Đà, vừa làm sáng tánh giác sẵn có nơi mình.
Hiểu sâu hơn
Mở phần chuyên sâu
Trong các phần của lòng tin Tịnh Độ, ngoài tin Phật, tin cõi Cực Lạc và tin nhân quả, người tu còn được khuyên tin nơi tự tâm. Đây là điểm hơi sâu, dễ bị hiểu lệch về một trong hai phía, nên cần được trình bày cho cẩn thận và quân bình.
Tin tự tâm, nói gọn, là tin rằng tâm mình vốn có khả năng giác ngộ, vốn sẵn một tánh sáng, và nhờ tu hành thì tánh sáng ấy được khơi dậy. Theo lối hiểu này, niệm danh hiệu Đức A Di Đà không chỉ là hướng ra ngoài cầu một vị Phật ở phương xa, mà đồng thời cũng là cách gạn lọc, làm sáng cái tâm của chính người niệm. Mỗi câu niệm Phật, nếu chí thành, đều giúp tâm bớt tham, bớt giận, bớt mê mờ, nhờ đó người tu mỗi ngày một hiền lành, sáng suốt hơn.
Theo truyền thống chú giải Tịnh Độ, các bậc Tổ sư thường nhắc câu tâm tịnh thì cõi tịnh, và nói tới ý tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh Độ. Ý ấy muốn nhắc người tu rằng cảnh giới thanh tịnh không tách rời tâm thanh tịnh, và Đức A Di Đà cũng tương ứng với tánh giác sẵn có nơi mỗi người. Đây là cách nói để khuyến khích người tu đừng chỉ tìm cầu ở bên ngoài mà quên xoay lại tu sửa nội tâm. Tuy vậy, vì đây là phần diễn giải sâu của các Tổ, nên cần được hiểu đúng tinh thần chứ không nên suy diễn quá đà.
Điểm phải hết sức cẩn thận là: tin tự tâm tuyệt nhiên không phủ nhận thật có cõi Tây Phương Cực Lạc cùng bản nguyện tiếp dẫn của Đức A Di Đà như Kinh A Di Đà và Kinh Vô Lượng Thọ đã dạy. Nếu mượn câu duy tâm Tịnh Độ để bác bỏ cõi Cực Lạc, cho rằng tất cả chỉ là tâm tưởng, không có cõi nước thật, thì đó là hiểu lệch, đi ngược với lời kinh. Cũng không nên nghĩ rằng đã lo tu tâm thì khỏi cần phát nguyện vãng sinh, khỏi cần niệm Phật. Hai cách hiểu lệch ấy đều làm hỏng sự quân bình của pháp môn.
Nên hiểu cho trọn rằng tự tâm và Cực Lạc không chống nhau, mà soi sáng cho nhau. Người tu vừa gắng làm sáng tâm mình qua việc niệm Phật, giữ giới, sửa tánh, vừa thành tâm phát nguyện sinh về Cực Lạc để tiếp tục tu học trong môi trường thuận lợi hơn. Tu tâm khiến lòng tin và sự tu thêm sâu; phát nguyện vãng sinh khiến đường tu có đích rõ ràng và có chỗ nương nơi nguyện lực của Phật. Giữ được cái nhìn quân bình ấy, người tu Tịnh Độ sẽ vừa không rơi vào chỗ hướng ngoại cầu cạnh, vừa không rơi vào chỗ chấp lý bỏ sự, mà bước đi vững vàng trên con đường về Cực Lạc.
Nguồn tham khảo
- Kinh A Di Đà, Taishō 366
- Kinh Vô Lượng Thọ, Taishō 360
- BDK English Tripiṭaka — The Three Pure Land Sutras
- CBETA
- A Di Đà Kinh Yếu Giải — Ngẫu Ích Đại Sư (Linh Phong Ngẫu Ích Trí Húc)