V. Tín – Nguyện – Hạnh
Tin nguyện lực A Di Đà
Tin nguyện lực A Di Đà là tin vào lời nguyện rộng lớn tiếp dẫn chúng sinh của Ngài. Nguyện lực ấy là chỗ nâng đỡ rất lớn, nhưng vẫn cần người tu có đủ Tín, Nguyện, Hạnh và giữ giới sống lành.
Nội dung giáo lý
Khi còn là Tỳ-kheo Pháp Tạng, Đức A Di Đà đã phát những lời nguyện rộng lớn, trong đó có lời nguyện tiếp dẫn chúng sinh nào tin tưởng, ưa thích và niệm danh hiệu Ngài thì được sinh về cõi Cực Lạc. Theo Kinh Vô Lượng Thọ, chính sức mạnh của những lời nguyện ấy, gọi là nguyện lực, làm chỗ nương cho người tu Tịnh Độ.
Nên hiểu nguyện lực của Phật là chỗ nâng đỡ rất lớn, như con thuyền lớn đưa người qua sông. Nhưng người muốn qua sông vẫn phải chịu bước lên thuyền, ngồi cho yên, nghĩa là vẫn phải có lòng tin, có nguyện thiết và chịu khó niệm Phật, giữ giới, sửa mình. Nguyện lực nâng đỡ chứ không làm thay phần tu của mỗi người.
Vì thế, tin nguyện lực A Di Đà không có nghĩa là cứ tin rồi mặc kệ, sống thế nào cũng được. Người tin sâu nguyện lực Phật thì càng thêm tha thiết tu hành, vì biết mình được nâng đỡ thì không nỡ buông lung. Tha lực và tự lực nương nhau, ấy mới đúng tinh thần Tịnh Độ.
Ý nghĩa thực hành
Quý vị có thể nuôi lòng tin nguyện lực bằng việc làm cụ thể mỗi ngày. Trước thời niệm Phật, hãy thầm nghĩ rằng Đức A Di Đà đã phát nguyện tiếp dẫn, mình chỉ cần một lòng nương theo bằng cách tin, nguyện và niệm. Nhưng để lòng tin ấy không thành ỷ lại, hãy đem nó vào đời sống: giữ năm giới, bớt nóng giận, sống tử tế với người trong nhà, vì đó chính là phần tu của mình đi cùng với nguyện lực Phật. Có bác lớn tuổi hay lo mình tội nhiều khó về Cực Lạc, nhưng khi hiểu rằng nguyện lực Phật nâng đỡ người chịu sửa mình, bác an tâm niệm Phật đều đặn và tập sống hiền hơn, gia đạo nhờ đó cũng êm. Đó là cách nương nguyện lực mà vẫn không quên tự tu. Khi nghi ngờ sức mình, đừng nản, hãy nhớ mình không đi một mình.
Một vài điều dễ lầm
Không nên hiểu tin nguyện lực Phật là Ngài bảo đảm cho mình về Cực Lạc bất kể mình tu hành hay sống ra sao.
Xem thêm điều dễ lầm
- Không nên ỷ lại nguyện lực mà bỏ luôn việc niệm Phật, giữ giới và sửa mình.
- Nên hiểu nguyện lực Phật là chỗ nâng đỡ rất lớn, nhưng không làm thay phần tu của mỗi người.
- Không nên xem tha lực và tự lực là hai chuyện chống nhau, mà chúng nương nhau cùng đưa người về.
- Nên hiểu người tin sâu nguyện lực thì càng tha thiết tu hành chứ không buông lung.
Hiểu sâu hơn
Mở phần chuyên sâu
Pháp môn Tịnh Độ có một nét rất riêng so với nhiều pháp môn khác, đó là nhấn mạnh đến tha lực, tức sức nâng đỡ từ bản nguyện của Đức Phật A Di Đà. Theo Kinh Vô Lượng Thọ, khi còn là Tỳ-kheo Pháp Tạng, Ngài đã đối trước Phật mà phát những lời nguyện rộng lớn, mong sao kiến lập một cõi nước thanh tịnh để tiếp dẫn mọi chúng sinh có lòng tin và niệm danh hiệu Ngài. Sức mạnh tổng hợp của những lời nguyện đã thành tựu ấy được gọi là nguyện lực.
Nguyện lực này là chỗ dựa lớn cho người tu Tịnh Độ, nhất là những người tự thấy căn cơ mình yếu kém, nghiệp chướng nặng nề, khó lòng tự mình giải thoát trong một đời. Truyền thống Tịnh Độ thường ví nguyện lực Phật như con thuyền lớn giữa dòng sông sinh tử: người muốn sang bờ kia không cần phải tự bơi bằng hết sức mình, mà có thể nương vào thuyền. Hình ảnh này giúp người sơ cơ bớt sợ hãi, thêm lòng tin rằng mình không đơn độc trên đường tu.
Tuy vậy, cần hiểu cho thật đúng để khỏi rơi vào hiểu lầm tai hại. Người muốn nương thuyền thì vẫn phải chịu bước lên thuyền và ngồi cho yên, nghĩa là vẫn phải có đủ Tín, Nguyện, Hạnh. Tín là tin lời nguyện của Phật chân thật; Nguyện là tha thiết muốn sinh về Cực Lạc; Hạnh là chịu khó niệm Phật, giữ giới và sống thiện lành. Nguyện lực nâng đỡ phần còn thiếu của ta, chứ không xóa bỏ trách nhiệm tu hành và đạo đức của mỗi người.
Vì thế, không nên hiểu tin nguyện lực Phật là Ngài đứng ra bảo đảm cho mình về Cực Lạc bất kể mình sống thế nào, làm điều ác hay buông lung vẫn được. Hiểu như vậy là biến lời nguyện từ bi của Phật thành cái cớ để lười tu, trái với chính tinh thần các kinh Tịnh Độ vốn luôn khuyên người tin phải phát nguyện và hành trì. Tha lực và tự lực không chống nhau, mà nương nhau: chính nhờ tin có nguyện lực nâng đỡ, người tu càng thêm tha thiết và bền lòng.
Hiểu và sống được như thế, lòng tin nguyện lực A Di Đà sẽ là nguồn sức mạnh dịu dàng, vừa cho ta sự an tâm vì biết có chỗ nương, vừa thúc đẩy ta siêng năng tu sửa mỗi ngày. Đó mới là cách tin nguyện lực đúng pháp, vừa khiêm cung vừa tinh tấn, đưa người Phật tử bước vững trên con đường về Cực Lạc.
Nguồn tham khảo
- Kinh Vô Lượng Thọ, Taishō 360
- Kinh A Di Đà, Taishō 366
- BDK English Tripiṭaka — The Three Pure Land Sutras
- CBETA
- Tịnh Độ Luận (Vãng Sinh Luận) — Bồ-tát Thế Thân, Taishō 1524