Kinh tụng

Đại Thế Chí Niệm Phật Viên Thông Chương

🎧 Nghe bài này

Một đoạn ngắn trong Kinh Lăng Nghiêm, nơi Bồ Tát Đại Thế Chí kể lại pháp môn niệm Phật của mình: “nhớ Phật, tưởng Phật… hiện nay hay về sau, nhất định thấy Phật” — được xem là lời dạy nền tảng cho người tu Tịnh Độ.

Giới thiệu & ý nghĩa

🔊 Nghe giải thích:

Đại Thế Chí Niệm Phật Viên Thông Chương là một đoạn ngắn trích trong Kinh Lăng Nghiêm, bản Việt dịch của cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám. Trong hội Lăng Nghiêm, Đức Phật hỏi hai mươi lăm vị thánh về con đường tu tập đã giúp mỗi vị giác ngộ; đoạn này là phần Bồ Tát Đại Thế Chí thuật lại pháp môn của mình — pháp môn niệm Phật. Tuy rất ngắn nhưng gói trọn tinh thần Tịnh Độ, nên truyền thống Tịnh Độ cận đại (gắn với Ấn Quang Đại sư) đưa chương này vào Tịnh Độ Ngũ Kinh — năm bài căn bản của người niệm Phật.

Bồ Tát kể rằng từ vô lượng kiếp trước, ngài được Đức Phật Vô Lượng Quang dạy cho phép "niệm Phật tam muội" — tức lấy việc nhớ nghĩ đến Phật làm nơi an trú vững chãi cho tâm. Để giảng cho dễ hiểu, ngài đưa ra hai hình ảnh rất đời. Thứ nhất: nếu hai người, một bên luôn nhớ, một bên cứ quên, thì dù gặp nhau cũng như không quen; còn nếu cả hai cùng nhớ nhau thì đời đời không xa cách. Thứ hai: chư Phật thương chúng sinh như mẹ hiền nhớ con; nhưng nếu người con mải rong chơi, quên mẹ, thì tình thương ấy cũng khó gặp; chỉ khi con nhớ mẹ như mẹ nhớ con, hai mẹ con mới chẳng lìa nhau.

Từ đó ngài nêu câu cốt tủy, được người niệm Phật xưa nay thuộc nằm lòng: "Nếu tâm chúng sanh nhớ Phật, tưởng Phật, thì hiện nay hay về sau, nhất định thấy Phật" (trích đúng bản Lê Đình Thám đang dùng). Người chuyên tâm niệm Phật, lâu ngày tâm tự thấm điều lành, ví như người đứng gần hương thơm thì thân cũng thơm lây — kinh gọi là "hương quang trang nghiêm". Cách hành lại giản dị: thu nhiếp sáu căn, giữ tịnh niệm nối tiếp — tức gom mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý đừng để tán loạn, rồi giữ câu niệm Phật này tiếp câu niệm Phật kia, đều đặn và trong sáng.

Ý nghĩa của đoạn kinh rất thiết thực cho đời sống. Niệm Phật, hiểu cho đúng, là cách gom cái tâm hay chạy nhảy, lo lắng của mình về một điểm tựa hiền lành, để lòng bớt loạn, người bớt nóng nảy; và khi gặp chuyện buồn lo trong đời, câu niệm Phật cũng là chỗ để nương, để không chới với, hoảng loạn. Ai từng thương nhớ một người thân đều hiểu: khi trong lòng có một hình bóng để hướng về, ta sống điềm đạm và tử tế hơn. Đại Thế Chí là một trong Tây Phương Tam Thánh — cùng Đức Phật A Di Đà và Bồ Tát Quán Thế Âm — biểu trưng cho ánh sáng trí tuệ soi đường. Vì thế đoạn kinh này cũng là một lời mời gọi thân thương: hãy nhớ Phật như nhớ người mình thương nhất, để tâm dần có chỗ nương, bớt tán loạn và dễ an hơn.

Lời kinh

Ngài Đại Thế Chí Pháp vương tử cùng với năm mươi hai vị Bồ tát đồng tu một Pháp môn, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đỉnh lễ nơi chân Phật mà bạch Phật rằng: Tôi nhớ hằng sa kiếp trước, có Đức Phật ra đời, tên là Vô Lượng Quang; lúc ấy mười hai Đức Như Lai kế nhau thành Phật trong một kiếp Đức Phật sau hết, hiệu là Siêu Nhật Nguyệt Quang, dạy cho tôi phép Niệm Phật Tam ma địa. Ví như có người, một đằng chuyên nhớ, một đằng chuyên quên, thì hai người ấy, dầu gặp cũng không là gặp, dầu thấy cũng là không thấy; nếu cả hai người đều nhớ nhau, hai bên nhớ mãi, khắc sâu vào tâm niệm, thì đồng như hình với bóng, cho đến từ đời nầy sang đời khác, không bao giờ cách xa nhau. Thập phương Như Lai thương tưởng chúng sanh như mẹ nhớ con, nếu con trốn tránh, thì tuy nhớ, nào có ích gì; nếu con nhớ mẹ như mẹ nhớ con, thì đời đời mẹ con không cách xa nhau. Nếu tâm chúng sanh nhớ Phật, tưởng Phật, thì hiện nay hay về sau, nhất định thấy Phật; cách Phật không xa thì không cần phương tiện, tâm tự được khai ngộ như người ướp hương thì thân thể có mùi thơm, ấy gọi là hương quang trang nghiêm. Bản nhân của tôi là dùng tâm niệm Phật mà vào pháp Vô sanh nhẫn, nay ở cõi nầy tiếp dẫn những người niệm Phật về cõi Tịnh Độ. Phật hỏi về viên thông, tôi thu nhiếp tất cả Lục căn, không có lựa chọn, tịnh niệm kế tiếp, được vào Tam ma địa, đó là thứ nhất

Nghe tụng — các bản thu

Nguồn tham khảo

Bài liên quan